Thơ ngộ thiền của TỔ LA HẦU ĐA LA (rahulata)


Sanh sau Đức Phật nhâp Niết Bàn 581 năm, người nước Ca Tỳ La thuộc dòng Phạm Ma, cha là La Phiệt Đà, mẹ là Lữ Phước Duyên.

Ngài rất thông mình và hay thắc mắc những gì mà ngài không dõ thông. Trong vườn nhà ngài có cây nấm mọc xem rất kỳ lạ, cha ngài ăn thì rất ngon, còn tất cả những người khác ăn thì rất đắng, không ai ăn được. Ngài đem sự kỳ lạ của cây lấm hỏi tổ, tổ trả lời:

-Kiếp trước cha ông là người thích làm phước thiện, cúng dường cho tất cả những vị tu hành, có 1 vị thầy thấy ông là người rễ xin tiền, nên bịa ra chuyện như sau:

Ông muốn cầu xin gì? Ta sẽ cầu cho, cha ông là người hiền lành, cũng muốn gia đình được bình an khỏe mạnh, nên nhờ vị thầy ấy cầu phúc cho gia đình. Sự thật phúc đức là do mình tự tao ra, còn vị thầy nếu tu hành đúng chánh pháp, chỉ chứng minh cho người khác cúng dường thôi, chớ không cầu phúc cho ai được. Vì vậy thầy ấy nợi dụng lòng tin của cha ông, nên khi cha ông sanh ra nơi nào, vị thầy ấy phải đến để trả quả cho cha ông, khi nào vị ấy trả hết nợ cho cha ông mới thôi. Việc nhân quả này có thể chả nhiều đời. Đức Phật gọi việc trả quả này hoa báo.

Nghe lời giả thích của tổ Ca Na Đề Ba, ngài hết sức vui mừng và xin cho xuất gia. Ngài theo tổ được 4 năm, những gì mà Như Lai dạy tu theo thiền tông ngài đều lắm vững, một hôm tổ hỏi ngài:

-Con theo ta học đạo thiền tông được 4 năm rồi, vậy con nhận được gì không?

Ngài trình với tổ:

-Kính thưa tổ, trước khi chưa được tổ dạy, con hiểu tu giác ngộ và giải thoát, phải dụng công mãnh liệt, thì mới giải thoát được. Nay con được tổ phân tích những gì trong vật lý thế giới này nên con đã giác ngộ được pháp môn thiền tông.

Tổ Ca Na Đề Ba hỏi: Vậy con hiểu thế nào hãy trình cho thầy nghe?

Ngài liền trình 24 câu kệ:

(Trích trong quyển cuộc đời và ngộ đạo của 36 vị tổ sư thiền tông – Nhà xuất bản tôn giáo Hà Nội)

Tin Liên Quan