Phân tích các pháp môn Đức Phật dạy

I . Thứ nhất:

Nguyên thủy: Còn gọi là tiểu thừa hay nam truyền:

-Vì đây là pháp môn đầu tiên nên gọi là nguyên thủy.

-Ngồi trong phòng nhỏ hẹp gọi là tiểu thừa.

-Các thầy đem về miền nam nước Ấn truyền bá nên gọi là Nam truyền.

Pháp môn này người tu sử dụng thân tâm duyên hợp của tứ đại, dụng công quán tưởng vật nhỏ ra lớn, hay trùm khắp phòng.

Ví dụ để chậu nước hay cây đèn đang cháy hoặc cây nhang đang cháy đỏ để trước mặt, người tu ngồi kiết dà, điều thân cho vững vàng, kế đến hít 3 hơi thở cho mạnh, cho không khí vào khắp châu thân, thông các huyệt đạo, nhìn thẳng vào tô nước hay ánh đèn, hoặc cây nhang đang cháy. Kế đến kiềm cho tâm vật lý được thanh tịnh, khi tâm vật lý được thanh tịnh rồi, liền quán nước trong tô, hay ánh đèn hoặc cây nhang đang cháy, khi nào một trong các thứ trên tự nhiên như có sự sống:

+Nước thì như sôi lên.

+Ánh sáng của cây đèn hay cây nhang tăng ánh sáng lên.

Người tu dụng công, tưởng cho loan ra đầy khắp cả phòng. Khi loan ra đầy khắp phòng là đã thành công.

Mục đích tu thiền quán tưởng này là muốn có thần thông để đi khoe với bạn hữu hay người xung quanh là mình tu có thần thông.

Phần nhiều người tu pháp môn quán tưởng này đi làm trò ảo thuật để kiếm tiền.

Pháp môn này 25 vị thánh trong kinh thủ lăng nghiêm có vị tu được thành công và trình với đức phật.

Pháp môn tu quán tưởng này có diệu dụng và kỳ đặc quá, nên quý thầy đem về miền nam nước Ấn Độ truyền bá. Lần lượt truyền sang các nước: Tích lan (srilanca), Miến Điện, Lào, Campuchia và 1 phần miền nam Việt Nam. Do đó hiện nay các nơi này triệt để tu theo pháp môn thiền quán tưởng.

II. Thứ hai: – Trung thừa

Mười Lăm năm đầu Đức Phật dạy pháp môn nguyên thủy xong rồi. Mười lăm năm kế tiếp ngài dạy pháp môn lý luận, pháp môn này người nào tu cũng áp dụng như pháp môn thứ nhất, khi người tu kiềm cho tâm vọng tưởng của mình được thanh tịnh rồi. Tự nhiên tâm vọng tưởng tuôn ra những vần văn, vần thơ hay kệ tuyệt hay. Người tu liền nắm lấy cơ hội này viết ra những lời văn thơ hay kệ ấy, do vây mới có những áng văn kiệt tác được.

Vì sao có những áng văn thơ kiệt tác như vậy ?

-Vì cái tưởng của tánh người nó có công dụng như vậy, cũng vì cái tưởng này mà nó dẫn con người đi chu du khắp trong Tam Giới, đến nơi nào tánh người ham thích.

Đức Phật gọi pháp môn này là triết lý phật thích ca. Vị nào tu hành thành công được như vậy, đi nói chuyện cho người khác nghe, người nghe họ rất thích nên có nhiều người tán thưởng.

Chúng tôi xin nhắc lại:

Thi hào Nguyễn Du là 1 vị tu thiền của đạo Phật, ông cũng áp dụng pháp tu trung thừa này. Khi đi thăm Trung Quốc về, ông biết bên Trung Quốc có gia đình họ Dương Thúy Kiều, có hoàn cảnh của một kiếp phù sinh như trong nhà phật đã dạy, nên ông về Việt Nam biên soạn và viết ra tập truyện kiều. Mỗi lần cầm bút viết thơ, ông dụng công cho tâm vật lý của ông được thanh tịnh, liền cảnh gia đình Dương Thúy Kiều hiện ra, thế là ông cứ tự nhiên viết, ông càng viết thơ càng đổ ra. Do vậy truyện kiều của ông được xem là có 1 không 2 ở việt nam và cũng có thể là trên thế giới nữa. Nhờ ông biết áp dụng pháp môn tu trung thừa của Đức Phật Thích Ca Mâu Ni dạy.

Ông Nguyễn Du thấy pháp môn Trung Thừa của Đức Phật dạy quá tuyệt, không sử dụng ngôn từ của thế giới này nói lên được chỗ quá đẹp đó nên ông tự đặt chỗ đó là Tố Như, tức cái đẹp chân như, như vậy thôi, không gì của thế gian có thể so sánh được.

Còn hiện nay mục đích của người tu theo pháp môn này, phần nhiều đi làm giảng sư, lý luận cho mọi người nghe. Nhờ vậy đời sống của họ rất sung túc, chớ về căn bản giải thoát họ không biết.

Vì sao họ không biết?

Vì những người tu theo pháp môn này họ say mê đem triết lý của mình ra để nói lại cho người khác nghe. Vì say mê nói cho mọi người nên họ bị dính mắc vào pháp môn này.

Pháp môn này nằm giữa pháp môn tiểu thừa và đại thừa nên gọi là trung thừa.

III. Thứ ba: – ĐẠI THỪA

Pháp môn đại thừa Đức Phật dạy như sau:

-Sử dụng thân và tâm duyên hợp của vật lý ngồi thiền: Nghi, tìm hay kiếm trong vật chất. Xem trong vật chất hữu dụng trong loài người như thế nào, hay làm hại loài người ra sao. Người tu pháp môn này công thức như pháp môn thứ nhất. Khi thành công biết rõ ràng, tường tận từ vật nhỏ như vi trần, ngày nay gọi là nguyên tử, hoặc lớn lao như hành tinh. Vì tìm biết được lớn lao như vậy nên gọi là đại thừa.

Nhờ pháp môn này Đức Phật thấy và biết trong càn khôn vũ trụ có:

1.Thái dương hệ

2.Tiểu thiên thế giới

3.Trung thiên thế giới

4.Đại thiên thế giới

5.Lực hút âm dương

6.Chuyển biến của dòng luân hồi

7.Vũ trụ không biên giới.

8.Sự sống trong Tam Giới

9.Sự sống loài người

10.Công thức vượt ra ngoài sinh tử luân hồi.

Mắt thường của chúng ta không thấy trong hư không có hình ảnh, nhưng mắt của Đức Phật ngài thấy được.

Cũng nhờ pháp môn này mà các nhà khoa học họ tìm ra được:

1.Nguồn điện

2.Lực đẩy động cơ, để rồi chế tạo ra: Phi thuyền, phi cơ, tầu thủy, các loại xe…và nhiều vật dụng hữu ích cho loài người.

Vì vật lý có hai chiều đối đãi với nhau, nên các nhà khoa học họ biết nguyên nhân sinh ra vũ trụ, luân chuyển của vạn vật, biết phản ứng hóa học của vật chất. Vì vậy các nhà vật lý học họ chế ra những vũ khí giết người hàng loạt và họ cũng có thể phá tan hành tinh này rất dễ dàng.

Cũng nhờ pháp môn này nên các vị có học vấn cao, hiện nay họ không tin những chuyện vớ vẩn mà những người xưa có đầu óc phong phú tưởng tưởng ra.

Mục đích chính của những người tưởng tượng ra:

-Trước hết để thống trị người ngu khờ.

-Sau họ được ăn trên ngồi trước mà không phải lao động vất vả.

Nói tóm lại pháp môn này các nhà khoa học rất thích nên họ tìm được sự thật bên trong vật chất nên những thứ ẩn sâu trong vạn vật họ tìm ra rất dễ dàng, chúng ta gọi họ là nhà phát minh.

Pháp môn này có những điều kỳ diệu như nói trên hiện chúng ta không thấy có vị thầy nào tu theo đạo phật thực hành pháp môn này cả, mà chỉ thấy quý thầy khoe là tu theo pháp môn đại thừa thôi.

Khi Đức Phật dạy xong 3 pháp môn tu: Tiểu, trung, và đại thưa xong rồi. Những người theo học với Đức Phật họ thắc mắc nên hỏi:

-Kính thưa đấng Gô Ta Ma (cũng gọi là Cồ Đàm), chúng tôi nghe ngài dạy các pháp môn tu, tiểu thừa, trung thừa, đại thừa, nhưng chúng tôi thấy không thích hợp, chúng tôi là những người thích sống với phong cảnh tuyệt hảo, ăn ngon, mặc đẹp, vậy ngài có pháp môn nào tu đến đó hưởng thụ không?

Đức Phật thấy trong giáo đoàn càng ngày có ít người đến học, sẵn có người hỏi pháp môn tu nào hưởng sung sướng và kỳ bí nên Đức Phật dạy tu hai pháp môn nữa là: Tịnh Độ và Mật Chú.

IV. THỨ TƯ: – Tịnh Độ

– Vị nào muốn ăn ngon mặc đẹp, nhìn phong cảnh tuyệt trần, chân đi trên đất bằng vàng, nghe chim muông thật quý ca hót, quý ông bà phải tu theo pháp môn Tịnh Độ.

Sao gọi là Tịnh Độ?

+ Tịnh là thanh tịnh.

+ Độ là đưa qua.

Đưa qua đâu?

Vì các ông đang sống trong thế giới ồn ào, luân chuyển quy luật của vật lý nhân quả và sức hút của vật lý âm dương nên phải đi theo chu kỳ: Thành- trụ- hoại- diệt, nên không an ổn được.

Các ông bà muốn đến sống với cảnh rất đẹp, vui tươi lại thanh tịnh, thì trong Tam Giới này chỉ có nước của Đức Phật A Di Đà là có tiêu chuẩn như các ông bà ham muốn.

Như Lai nói cho các ông bà biết

  • Nước của Đức Phật A Di Đà gọi là nước Tịnh Độ. Vì sao gọi là Tinh Độ?

Vì nước này rất thanh tịnh, là nơi Đức Phật A Di Đà dạy pháp môn thanh tịnh thiền để đưa ai muốn thoát ra ngoài sức hút nhân quả vật lý điện từ âm dương trong Tam Giới này. Các ông bà ai muốn đến đó sinh sống phải làm 3 việc sau:

+ Làm phước thiện thật nhiều

+ Khi làm phước ông bà phải cầu mong đến nước của Đức Phật A Di Đà sinh sống.

+ Khi cầu mong tâm của các ông bà phải thanh tịnh.

Nếu ông bà nào thực hiện đúng 3 phần nói trên, trong vòng 3, 5 hoặc 7 ngày, tự nhiên sẽ thấy được hình bóng của đức phật A Di Đà hiện ra nơi tâm của ông bà.

Như Lai lưu ý hình bóng của Đức Phật A Di Đà như sau thì mới phải:

1.Ngài mặc quần áo rất đẹp

2.Trang sức của ngài là những trang sức thật quý

3.Xung quanh ngài có những quang cảnh như sau:

+ Đất của ngài đứng là bằng vàng ròng

+ Cây, cảnh, hoa, lá, trái là những thứ cấu tạo bằng điện từ âm dương có mầu như châu ngọc.

+ Chim muông lúc nào cũng ca hót rất hay.

+ Nhìn mênh mông nơi nước của ngài có vô số những nơi thờ các vị phật quá khứ.

+ Biển hay ao, hồ nơi đâu cũng toàn là hoa sen rất đẹp.

+….

Các ông bà ai muốn vãng sanh đến nước tịnh độ này sinh sống thì phải thực hiện ba phần như trên cho đúng, khi hết duyên sống nơi thế giới loài người thì ba thứ này nó tạo ra làn sóng điện từ âm dương rực rỡ, đúng với điện từ âm dương của nước Tịnh Độ. Làn sóng điện từ âm dương này tự động hút trung ấm thân của ông bà vào nước Tịnh Độ sinh sống.

Như Lai lưu ý ông bà về sự sống nơi nước tịnh độ này:

-Ông bà nào tạo ra phước đức vô lượng khi vãng sanh đến đây được vào hoa sen thật lớn.

-Ông bà nào tạo ra phước đức nhiều khi vãng sanh đến đây được vào hoa sen vừa.

-Ông bà nào tạo được ít phước đức, khi vãng sanh đến đây được vào hoa sen nhỏ.

Nước tịnh độ này có 9 tầng hoa sen để sanh ra tiên con.

Tuổi thọ của tiên ở nước tịnh độ này cao nhất là 10.000 năm so với ở địa cầu này.

V. THỨ NĂM: – MẬT CHÚ

Ông bà nào muốn sống nơi linh thiêng thì phải làm 3 việc:

1-Làm phước thiện thật nhiều

2-Khi làm phước thiện phải mong đến nơi linh thiêng sinh sống.

3-Miệng lúc nào cũng niệm câu thần chú liên tục.

Như Lai cũng nói cho các ông bà biết sự sống nơi này là cõi thần.

Người sống nơi cõi thần nếu ở thế gian làm phước thiện thât nhiều, khi hết duyên sống được vãng sanh đến cõi thần sinh sống và được làm thần chủ. Còn người làm phước thiện ít chỉ được làm thần dân thôi.

VI. THỨ SÁU: – THANH TỊNH THIỀN

Vị nào muốn giác ngộ và giải thoát ra ngoài sự cuốn hút nhân quả của vật lý âm dương nơi thế giới này thì tu pháp môn thanh tịnh thiền.

Người tu pháp môn này phải làm các việc sau:

1.Tìm học tu nhất tự thiền.

2.Khi biết rồi phải cố gắng giúp cho nhiều người biết.

3.Người khác biết là mình có công đức.

4.Công đức là phương tiện để giải thoát và để cho ra một ngôi nhà pháp thân thanh tịnh được lớn.

5.Người nào không thích tuyệt đối không nói với họ.

Phải thuộc lòng 12 câu kệ sau:

Thiền thanh là nhất tự thiền,

Buông, dừng, thôi, dứt hết liền tử sanh,

Ở trong vật lý đua tranh,

Đưa tranh càng mạnh tử sanh kéo mình,

Muốn hết tử sanh phải dừng,

Dừng tìm, dừng kiếm, dừng luôn luận bàn

Tâm dừng thì được bình an,

Dừng theo vật lý muôn ngàn an vui,

Thiền thanh phải bỏ cái tôi,

Vì tôi là ngã luân hồi phải đi

Như lai dạy nhất thiền thì,

An tâm là được việc chi cũng lìa.

Pháp môn nhất tự thiền này nó là cực dương, do đó người nào nhận được pháp môn nhất tự thiền này rồi, thì phải tuân thủ 4 không như sau:

1.Không tranh luận với ai.

2.Không tiếp xúc với người ham mê tiền tài, danh lợi, địa vị.

3.Không tiếp xúc với người tu đạo tà.

4.Không nói bừa bãi.

Người nào tu nhất tự thiền mà không tuân thủ 4 không trên thì thân mạng mình xem như bỏ đi vậy.

Trích quyển “Đức phật dạy tu thiền tông”-NXB Tôn Giáo Hà Nội 2012

 

 

 

Tin Liên Quan