Kệ ngộ thiền của Tổ A Nan Đà

 


 

 – Ngài A Nan Đà (Ananda), nhỏ hơn Đức Phật 30 tuổi. Con của vua Hộc Phạn và hoàng hậu Phước Thệ Thiên, dòng Sát Đế Lợi, ở thành Ca Tỳ La Vệ, vua Hộc Phạn là em ruột của Đề Đạt Đa, tức em nhà chú của Đức Phật Thích Ca Mâu Ni.

Thủa nhỏ, Ngài có nhiều tướng tốt, thông minh tuyệt vời, đến 25 tuổi xin theo Phật xuất gia.

Phật cần người thị giả, rất nhiều vị đứng ra tình nguyện. Nhưng vì quá nhiều người, nên Đức Phật phải lập ra hội thi, để tìm ra vị nào đạt yêu cầu cao nhất thì được làm thị giả.

Sau khi thi tài đối đáp và nhớ dai, Ngài được vượt trội. Tuy vượt trội nhưng Ngài cũng không chịu nhận, Ngài diện lý do là em của Đức Phật, nếu làm thị giả sợ nhiều người dị nghị. Sau cùng Đức Mục Kiền Liên và Ngài Xá Lợi Phất đứng ra năn nỉ nhiều lần, buộc lòng Ngài nhận nhưng Ngài xin Đức Phật 4 điều:

Không thọ trai riêng

Không mặc y thừa của phật

Không hầu hạ phật khi phật ở 1 mình

Không sử dụng bất cứ thứ gì của phật cho.

Đức Phật chấp nhận 4 điều kiện của ngài và có lời khen:

-Quả thật ông có sự hiểu biết cao rộng như vậy, vì sợ mọi người di nghị ông là em chú bác với Như Lai, thế là ngài theo làm thị giả cho Đức Phật suốt 25 năm.

Một hôm ngài đi khất thực về ngang tịnh xá của Đức Phật ở, thấy bà di mẫu Ma Xa Ba Đề đang đứng trước cửa khóc. Di mẫu áo quần bụi bặm, chân dính bùn đất, vẻ người bi thảm, ngài đến gần hỏi duyên cớ. Biết bà từ hoàng cung đến xin Đức Phật xuất gia, bà xin đến 3 lần mà Đức Phật không cho. Ngài A Nan Đà thấy cảm động quá, nên vào tịnh xá của Đức Phật, đảnh lễ Như Lai xin cho bà xuất gia. Ngài kể công ơn của bà Ma Xa Ba Đề, là 1 tay nuôi Đức Phật khi hoàng hậu không còn.

Thấy A Nan Đà năn nỉ quá, nên Đức Phật cho bà xuất gia với 3 điều kiện:

-Bà phải ở gần chư tăng, để có gì chư tăng bảo vệ

-Bà phải tìm thêm vài người nữa để cư ngụ chung

-Phải tự lo chỗ ở kín đáo.

PHẦN NGÀI A NAN ĐÀ

Ông A Nan Đà xuất gia, sau khi đức phật thành đạo 24 năm. Do đó những pháp môn tu tiểu thừa và trung thừa ngài không biết được, vì vậy ngài có trình thưa đức phật, khi dảnh rỗi hãy nói lại cho ngài nghe để biên chép lại cho đầy đủ 6 pháp môn mà như lai dạy.

Khi ngài nhận làm thị giả, mỗi lần Đức Phật thuyết kinh. Ngài nhớ về thất soạn lại và trình lại cho Đức Phật kiểm lại, nếu có chỗ nào sai, Đức Phật chỉnh lại.

Ngài có nhược điểm như sau:

Tuy ngài văn hay chữ đẹp, nhớ dai, nhưng nhận biết ý xâu mầu trong các lời kinh ngài không hiểu được, vì vậy khi ngài bị ông Duy MA Cật hỏi vài chỗ yếu chỉ phật ngôn ngài không hiểu được.

Phần nêu các danh từ:

Ngài A Nan Đà thay mặt đại chúng có hỏi đức phật như sau:

Kính bạch đức thế tôn, sau khi Như Lai diệt độ, chúng con muốn đắp tượng đức thế tôn để thờ, mục đích của chúng con là, muốn nhìn hình tượng của đức thế tôn, để nhớ lời dạy của đức thế tôn, nơi đặt tượng phật của đức thế tôn gọi là gì?

Đức phật dạy ông A Nan Đà và đại chúng:

Nơi đặt tượng của như lai gọi là chùa.

Vì sao gọi vậy? vì chùa là bao hàm mênh mông rộng khắp, đúng như lời như lai dạy.

Ngài A Nan Đà thay mặt đại chúng hỏi tiếp: Sao không được gọi là nhà thờ?

Đức Phật dạy:

Nhà thờ là chỉ cho tựu hội của vật lý, nên nó rất nhỏ hẹp, nơi đây chỉ thờ những vị còn nằm trong vật lý, nhà thờ này có mấy dạng như sau:

1.Ở tín ngưỡng, thờ vị chúa của cõi trời Thượng Đế, vị này nằm trong cõi trời Dục Giới

2.Cũng ở tín ngưỡng, thờ vị thánh đứng đầu trong cõi trời Vô Sắc giới, vị này cai quản cõi trời này, thờ vị này các môn đồ của ngài không được vẽ hình.

Vì sao vậy?

Vì cõi này không cấu tạo bằng sắc chất của tứ đại, nên không thể vẽ hình được.

3.Còn ở nhân gian, thờ tổ tiên, ông, bà, cha, mẹ hoặc người thân.

Ngài A Nan Đà hỏi:

Ba cung cách nhà thờ nói trên, vậy có nhũng danh từ nào nữa để nói lên chỗ thờ phượng này?

Đức phật dạy:

Này ông A Nan Đà và đại chúng, ngoài 3 cung cách thờ nói trên, còn 2 nơi thờ nữa nhưng rất nguy nga và đồ sộ.

Tòa thánh 1: Nơi thờ vị giáo chủ trong cõi trời Thượng Đế, nằm trong Dục Giới, nhưng nơi đây phải là nơi có ban bệ, có phân chia cấp bậc, tổ chức như 1 cơ quan của 1 nước vậy.

Tòa tánh 2: Nơi thờ vị giáo chủ trong cõi trời Ngọc Hoàng, cũng nằm trong cõi trời Dục Giới, nơi đây cũng có ban bệ, cũng có phân chia cấp bậc, tổ chức như 1 cơ quan của 1 nước vậy.

Như Lai dạy thêm: Ngoài các loại trên:

Đình có 2 loại:

1.Thờ thành hoàng bổ cảnh, tức thờ hồn thiêng sông núi, cây cỏ hoa lá, trong vật lý của trái đất này.

2.Thờ vị có công chận với đất nước.

Miếu cũng goi là miễu đây là tín ngưỡng dân gian, họ thờ bất cứ ai họ cho là đã giúp họ, dù nam hay nữ, dù thú hay cây cỏ…

NGÀI A NAN ĐÀ ĐẠT ĐƯỢC BÍ MẬT THIỀN TÔNG:

Theo lời dạy của Đức Phật, khi ông Ma Ha Ca Diếp sắp tịch, phải truyền thiền tông lại cho ông A Nan Đà, để làm tổ sư thiền đời thứ 2. Đúng theo quy định truyền thiền tông, vị nào được truyền thiền tông, vị đó phải đạt được bí mật thiền tông và có bài kệ hay thơ ít nhất 12 câu mới được truyền thiền. Hiện ngài A Nan Đà chỉ mới giác ngộ chứ chưa đạt bí mật thiền tông.

Một buổi sáng mùa xuân, tổ Ma Ha Ca Diếp đang đứng trước sân chùa ngài A Nan Đà đến chắp tay thưa hỏi tổ:

Kính bạch sư huynh, Như Lai truyền cho sư huynh y choàng, bát ăn cơm và gói kệ huyền ký, ngoài 3 món nói trên Như Lai có truyền thêm vật gì nữa không?

Tổ Ma Ha Ca Diếp biết, gã này không chịu nhận nơi mình mà cứ tìm kiếm chuyện vớ vẩn bên ngoài nên tổ nhìn thẳng mặt ông A Nan Đà và nói thật lớn:

-Này ông A Nan Đà ông coi trừng cây phướng trước chùa ngã đè ông.

Vì tiếng nói trực diện và quá to của tổ Ma Ha Ca Diếp, nên ông A Nan Đà bị chát lỗ tai, không kịp suy nghĩ mà ông tự nhiên nghe. Chính cái chỗ tự nhiên nghe này. Nên ông A Nan Đà nhận rất rõ tánh nghe thahh tịnh của chính mình và ông đã cảm nhận được tánh nghe ấy, ông ở trong trạng thái này rất lâu, như chết đứng.

Tổ Ma Ha Ca Diếp, biết ông A Nan Đà đã được rơi vào bể tánh thanh tịnh phật tánh và nhận được tánh hay nghe của mình, nên tổ cứ để tự nhiên như vậy, sau nửa canh giờ, ông A Nan Đà mới trở lại tánh nghe vật lý, nên tổ Ma Ha Ca Diếp hỏi ông:

Sao ông chết đứng như vậy?

Ông A Nan Đà thưa:

Nhờ diệu thuật của sư huynh, đệ đã nhận được tánh nghe thanh tịnh của chính đệ.

Tổ Ma Ha Ca Diếp hỏi tiếp:

Ông nhận biết như thế nào, hãy nói lại cho sư huynh nghe coi, có thật đúng như vậy không?

Ông A Nan Đà liền ứng khẩu bằng 64 câu kệ:

(Trích quyển :cuộc đời và ngộ đạo của 36 vị Tổ sư thiền tông Ấn Độ – Trung Hoa- Việt Nam”- NXB Tôn Giáo)


Tin Liên Quan