Kệ ngộ thiền của lục Tổ Huệ Năng

Sanh năm 638 dương lịch, tích 713, thọ 75 tuổi, người ở nước Đường, cha là Lư Hành Thao, mẹ Lý Yến Thị, cha ngài làm quan ở tỉnh Nam Hải, trông coi quốc khố. Bị người hãm hại nên triều đình cắt chức đày đi Lĩnh Nam gần biên giới Việt Nam, vì không chịu nổi cảnh rừng thiêng nước độc nên cha ngài mất ở tuổi 49. Do vậy ngài thất học, vào rừng đốn củi đem ra chợ bán để nuôi thân và nuôi mẹ.

Một hôm ngài ghánh củi ra chợ bán, có người nhà phố kế bên tụng kinh Kim Cang, ngài nghe được câu:

Bất ưng trụ sắc sanh tâm

Bất ưng trụ thanh, hương, vị, xúc, pháp, sanh tâm.

Ưng vô sở trụ nhi sanh kỳ tâm.

Tự nhiên thân tâm ngài như chết mất, 1 hồi lâu ngài tỉnh lại, sao thấy kỳ lạ quá, tự nhiên mình nghe câu kinh như vậy mà mình bị chết mất, như vậy bài kinh này là thế nào mà đưa mình vào chỗ mênh mông như vậy, ngài liền vào nhà hỏi:

-Kinh này là kinh gì mà có diệu lực quá đặc biệt, tôi vùa nghe ông tụng có mấy câu mà tôi bị chết mất người, như bị rơi vào khoảng không mênh mông vô tận vậy.

Người tụng kinh đã từng nghe ngũ tổ dạy:

-Ai đọc kinh này mà nghe cảm nhận mất mình hay bị rơi vào khoảng không mênh mông vô tận, là người đó bị sức hút của Thanh tịnh thiền và về được quê xưa của mình, người này sẽ làm thầy của người và làm thầy của trời nữa.

Người tụng kinh biết ngài đã đạt được bí mật thanh tịnh thiền nên nói:

-Cậu là người hiếm có trên đời, kinh này tôi đọc tụng trên 10 năm mà không cảm nhận được gì, còn cậu mới nghe tôi tụng có một lần có mấy câu mà đã cảm nhận được sự kỳ diệu của pháp môn Thiền tông học này. Tôi có nguyện hứa, người nào giác ngộ được bí mật Kinh Kim Cang này, nếu người đó cần tôi giúp đỡ trong việc tu hành tôi sẽ giúp.

Ngài nói với người tụng kinh:

-Tôi Là Lư Huệ Năng là tiểu phu đốn củi bán nuôi mẹ và nuôi thân, không biết nơi phát hành kinh này là từ đâu xin ông chỉ cho?

Người tụng kinh trả lời:

-Kinh này là ở chùa thiền tông Đông Thiền, huyện Quỳnh Mai cách đây 30 ngày bộ,

Ngài nghe vậy cũng quyết trí đi và than với người tụng kinh:

-Tôi cũng muốn đến đó để tu hành nhưng còn mẹ già gần 70 tuổi không ai phụng dưỡng.

Người tụng kinh nói:

Tôi sẽ tặng cho cậu 10 lượng bạc để nhờ người nuôi mẹ, và cậu nói với người thân, trong lúc cậu không ở gần mẹ, mẹ cậu có cần gì đến đây tôi sẽ giúp đỡ tận tình cho.

Câu nói và lời hứa của người tụng kinh làm ngài dơi nước mắt, nhận bạc của người tụng kinh rồi chạy về báo với mẹ, mẹ ngài thấy con mình hiểu đạo nên nói:

-Thân mẹ tuy nay đã già, nhưng phật pháp khó tìm, con nay không tìm mà đã gặp, đây thật là phúc lớn cho nhà ta, vậy để mẹ chuẩn bị thức ăn khô cho con, con hãy mau đến chùa Đông Thiền ra mắt ngũ tổ.

Ngài vâng lời mẹ lên đường suốt 30 ngày cũng đến được chùa Đông Thiền huyện Quỳnh Mai, gặp được ngũ tổ, tổ hỏi:

Cậu từ đâu đến và cầu việc gì?

Ngài thưa: Con là Lư Huệ Năng, từ đất Lãnh Nam đến đây, xin cầu làm phật.

Tổ thấy gã này thân hình xấu xí nhỏ bé, tiều tụy mà có lời khí khái nên tổ hỏi:

-Cậu là người sống ở biên địa, người bần cùng hèn hạ mới sống ở đó, làm sao cầu làm phật được?

Ngài trình với tổ:

-Con tuy là sống ở biên địa, tổ có phật tánh con cũng có phật tánh vậy.

Một câu nói của ngài làm tổ ngạc nhiên, tổ hỏi:

Làm sao cậu biết mình có phật tánh và phật tánh của cậu ra làm sao?

Ngài không nói phật tánh của mình mà trình với tổ bài kệ 20 câu:


Ngũ tổ nghe ngài trình 20 câu kệ, biết ngài đã đạt được bí mật Thiền tông, cuộc hỏi đáp của ngài với tổ có quá nhiều người đứng nghe, tổ sợ người đứng nghe biết ngài đạt được bí mật thiền tông sẽ làm khó rễ ngài, tổ bảo:

-Cậu là người dốt mà hay nói chữ, vậy theo thượng tọa này xuống nhà trù làm việc đi, tổ vừa nói với ngài vừa nháy mắt ra hiệu, ngài hiểu nên xuống nhà trù làm việc, tổ cũng thường xuyên xuống nhà trù và hay nói những lời bâng quơ, những người đứng bên nghe không ai hiểu. Một hôm tổ thấy việc truyền bí mật thiền tông đã đến nên có thông báo cho đại chúng biết:

-Nay ta đã già, muốn truyền tổ vị Thiền tông cho đời thứ 33 lại cho người kế tiếp, vậy mỗi người làm 1 bài kệ trình ta xem, nếu ai đạt được bí mật Thiền tông ta sẽ truyền tổ vị cho người đó.

Ai cũng thấy ngài Thần Tú là người có khả năng, vì ngài là giáo thọ sư dạy hơn 700 tăng và đại chúng, nên tất cả đề nghị ngài Thần Tú làm kệ trình cho tổ. Thượng tọa Thần Tú ở vào thế chẳng đặng đừng nên phải làm kệ trình tổ, bóp óc suy nghĩ nát óc làm được bài kệ 4 câu như sau:

Thân thị bồ đề thọ

Tâm như minh cảnh đài

Thời thời cần phất thức

Vật sử nhạ trần ai

Ý ngài muốn diễn tả người tu theo thiền tông:

Thân người như cây bồ đề

Tâm người như đài gương sáng

Ngày ngày phải lau chùi

Chớ để dính bụi bặm.

Bốn câu kệ nói trên ngài không biết có đạt được ý sâu mầu của pháp môn Thiền tông học hay không? Nên ngài không dám trình với tổ xem, nửa đêm ngài cầm đèn ra vách nam lang của chùa, ngài viết 4 cậu kệ lên. Sáng ra nhiều người thấy và ầm lên, tổ biết bài kệ này là của Thần Tú nên tổ dạy:

Ai nghiêm chỉnh tụng bài kệ này sẽ có phước đức lớn.

Thượng tọa Thần Tú nghe vậy lên rất mừng, và thầm nghĩ mình sẽ nhân được tổ vị Thiền tông đời thứ 33, chiều cùng ngày tổ gọi ngài vào thiền tông thất của tổ có nói như sau:

Bài kệ ngoài vách nam Lang có phải của ông làm không?

Thượng tọa Thần tú thưa với tổ:

-Bạch là của con, xin hòa thượng xem coi con có đạt được thiền tông không, chớ sự thật con không mong cầu tổ vị.

Tổ dạy ngài Thần Tú:

Bài kệ của ông làm chưa nhận ra phật tánh của mình, người nhận ra được phật tánh của mình dồi, dù người đó có ở giữa chiến trường, phật tánh ấy cũng không dao động, vậy ông về tịnh thất làm lài kệ khác trình ta xem, nếu vào được cửa bí mật thiền tông ta sẽ truyền tổ vị cho.

Ngài nghe tổ phán một câu, tự nhiên ngài toát mồ hôi, từ giã tổ về thất của mình. Bước ra ngoài thất của tổ mà chân ngài đi lảo đảo không vững, khi về đến thất mà tâm trí như muốn cuồng, suy nghĩ miên man, mình đã vặn óc, vét tâm mấy ngày trời tốn không biết bao nhiêu giấy mực, chỉ viết ra được có 4 câu kệ, nay tổ bảo không phải thật là khổ.

Mấy ngày sau có chú tiểu đi ngang chỗ giã gạo của ngài Huệ Năng, đọc bài kệ của ngài Thần Tú, ngài huệ năng hỏi:

Thượng nhân tụng kinh gì đó?

Chú tiểu nói với ngài:

-Ông nhà quê này, bài kệ này của thượng tọa Thần Tú viết bên vách Nam Lang để trình ngũ tổ, ngũ tổ bảo ai tụng kệ này có rất nhiều phước,

Ngài Huệ năng nói:

Vậy thượng nhân dẫn tôi đến chỗ bài kệ để lễ cho có phước.

Chú tiểu dẫn ngài lên chỗ bài kệ, ngài nói với chú tiểu:

-Tôi không biết chữ xin thượng nhân đọc cho tôi nghe.

Nghe chú tiểu đọc xong ngài nói:

Tôi cũng có bài kệ nữa xin thượng nhân viết giùm tôi để giao duyên với bài kệ này.

Đứng sau ngài là ông quan biệt giá nói với ngài:

Ông mà cũng có kệ nữa sao?

Ngài nói với ông quan biệt giá:

-Ngài đừng có nhìn người bên ngoài, người thấy thông minh xinh đẹp, chưa chắc có trí cao, còn người coi như bần cùng hèn hạ mà có trí siêu xuất thì sao?

Ông quan biệt giá nói:

-Thôi ông đọc đi, tôi viết cho, nếu ông được đạo hãy độ tôi trước nghe.

Ngài Huệ Năng liền cất tiếng đọc:

Bồ đề bổn vô thọ

Minh cảnh diệt phi đài

Bản lai vô nhất vật

Vật sử nhạ trần ai.

Ông quan biệt giá và những người có mặt đều kinh ngạc, không ngờ 1 người bề ngoài có thân hình xấu kém, không biết chữ mà lại có nời kệ hay vậy, ai cũng náo động, ngũ tổ biết được ngài liền đến đó và nói:

Bài kệ này cũng chưa thấy được phật tánh và nói với mọi người ai có việc gì làm việc ấy.

Tổ liền cởi giày ra, cầm giầy chà mất bài kệ, mọi người chứng kiến, chắc ông này học kệ của ai đó. Chứ 1 ông nhà quê làm gì có kệ. 2 ngày sau tổ xuống chỗ giã gạo hỏi ngài:

Ông đi học đạo mà nhọc nhằn thế ư?

Ngũ tổ nói tiếp: Gạo ông giã đã trắng chưa?

Ngài thưa với tổ:

Dạ, gạo của con đã trắng đã lâu rồi mà chưa có dần sàng.

Ngũ tổ không nói gì thêm, ngài cầm gậy gõ vào tay cối 3 cái dồi chắp ray ra sau lưng đi về thiền tông thất của ngài. Ngài Huệ Năng nhận được ý tổ, nên chống điểm canh 3 ngài đến thiền tông thất của tổ gõ cửa, tổ liền dẫn ngài vào thiền tông thất, kéo màn che hết các cửa và dạy ngài:

Trong huyền ký cửa Như Lai, có nói ông là vị tổ sư Thiền tông đời thứ 33, cũng từ đời ông việc truyền bí mật Thiền tông không được truyền nữa.

Vì sao vậy? vì có 4 lý do sau:

-Ông là người không biết chữ nên không đọc kệ Thiền tông được.

-Ông là người đặc biệt, không học bất cứ ai mà đã vượt qua được 3 cửa: Yếu chỉ thiền tông, bí mật thiền tông và rơi vào Bể tánh thanh tịnh phật tánh.

-Trong suốt 33 vị tổ thiền tông, ông là người kỳ đặc nhất, vì có quá nhiều người đạt được bí mật Thiền tông, thì truyền thiền cho ai bây giờ, do đó đến đời ông việc truyền bí mật Thiền tông không được phép truyền nữa mà phải chuyển hướng truyền thiền như:

Người nào hiểu pháp môn Thiền tông mà không sử dụng thứ gì trong vật lý để tu, người đó được cấp giấy chứng nhận giác ngộ yếu chỉ Thiền tông.

Người nào giải mã được tất cả các pháp môn tu của Như lai, có dụng công hay không dụng công, kể cả các pháp môn tu của các tôn giáo khác, vị đó phải được cấp giấy chứng nhận đạt được bí mật Thiền tông, được truyền thiền trước tôn tượng thiền tông của Như Lai.

Còn người được rơi vào Bể tánh thanh tịnh phật tánh, vị này ở thế giới này không ai được phép chứng nhận cho vị này cả.

Ta dạy ông các căn bản nói trên sau cùng ta dạy 4 câu then chốt trong pháp môn Thiền tông học này:

Hữu tình lai hạ chủng,

Nhân đất quả liền sanh

Vô tình vô chủng tánh

Vô tánh nên vô sanh.

Ngũ tổ dạy trắng nghĩa 4 câu này như sau:

Người tu muốn giác gộ và giải thoát thì dạy họ.

Nhờ lòng ham muốn cao đó, nên họ dễ dàng nhận ra phật tánh của chính họ.

Người tu không muốn giải thoát, mục đích chính của họ là tu để kiếm tiền, hoặc đi làm tôi tớ cho kẻ khác, ông không được phép nói pháp môn Thiền tông này với họ.

Người muốn đi tìm những thứ trong vật lý, trong vật lý làm gì có phật tánh mà dạy họ.

Bốn việc căn bản ta dạy ông, ông hãy quỳ gối xuống ta đọc nhanh bài kệ truyền bí mật thiền tông mà như lai đã truyền cho ngài Ma Ha Ca Diếp làm tổ sư thiền tông đời thứ nhất, các tổ cũng lấy bài kệ này truyền cho nhau.

Chúng tôi xin không nêu bài kệ ở đây.

Ngũ tổ đọc bài kệ truyền bí mật Thiền tông xong, ngũ tổ giao tất cả các tín vật mà Như Lai đã truyền đến ngài, cũng đêm đó, ngũ tổ đưa ngài ra bến cửu giang, trên dường đi tổ dạy thêm:

-Khi gặp ấp hoài thì ẩn nơi đó 1 thời gian, còn khi gặp ấp hội thì trụ nơi đó, đợi khi nào duyên lành đến ông mới được phép nói pháp môn Thiền tông này ra, nhưng ông phải nhớ 2 điều như sau:

Ban đầu ông trình tín vật cho mọi người xem, ông chỉ được phép thuyết pháp môn trung thừa, tức hệ bát nhã, còn pháp môn Thiền tông học này ông phải nói trong phạm vi hạn chế 10% thôi khi nào có ai muốn tu giác ngộ và giải thoát hãy tận tình giúp họ, vì trong huyền ký của Như Lai có dạy, phải đợi đến đời Mạt thượng pháp, pháp môn này mới được công khai nói ra, vì đến thời kỳ đó loài người đã văn mình lên cao, nên họ rễ ràng tiếp nhận pháp môn này. Khi ngũ tổ dẫn ngài xuống thuyền qua sông, ngũ tổ cầm chèo để chèo qua sông, ngài nói với ngũ tổ 1 câu hết sức cảm động:

Khi mê, thầy độ con, hôm nay con đã ngộ dồi, con xin tự độ lấy con.

(Trích quyển :cuộc đời và ngộ đạo của 36 vị Tổ sư thiền tông Ấn Độ – Trung Hoa- Việt Nam”- NXB Tôn Giáo)

Tin Liên Quan