CUỘC ĐỜI-XUẤT GIA-TU HÀNH CỦA THÁI TỬ TẤT ĐẠT ĐA (Đức Phật Thích Ca Mâu Ni)

Phần này chia làm 4 phần: đối đáp, xuất gia, tu hành, dạy đạo

1.Đối đáp:

Thái tử Tất Đạt Đa khi lớn lên Ngài có 4 cái thắc mắc sau:

Một: Con người từ đâu đến thế giới này?

Hai: Con người đến thế giới này rồi bị: sinh, già, bệnh, chết.

Ba: Khi còn sống nơi thế giới này tranh dành hơn thua, chém giết với nhau, sau cùng rồi cũng lìa bỏ tất cả.

Bốn: Sau khi chết rồi sẽ đi về đâu?

Bốn thắc mắc nói trên, ngài đem hỏi tất cả những người có học thức cao nhất trong triều, nhưng không ai giải đáp được, nên ngài có trình với vua cha là cho ngài ra ngoài Hoàng cung để hỏi cho ra nhẽ, nếu ra ngoài Hoàng cung hỏi những người thông minh, không ai trả lời được, thì ngài tự đi tìm bốn thắc mắc trên.

Vì Thái tử có lòng cương quyết vậy, bắt buộc đức vua phải đi tìm những người có danh tiếng vào Hoàng cung để cho thái tử hỏi.

Hiện trong nước Ca Tỳ La Vệ có rất nhiều hội đạo, hội đạo có đông người tu và theo học là của ông giáo sĩ Uất Đầu Lam Phất, đang có trên 5000 ngàn người, được mọi người tôn kính là pháp vương, tức vua pháp.

Ông đã nhiều lần tuyên bố:

-Ta tu đã chứng được thiền Phi Phi Tưởng giải thích được tất cả các thắc mắc bất cứ ai hỏi.

Cũng vì lời tuyên bố quá mạnh của ông giáo sĩ này, nên đức vua Tịnh Phạn đang trị vì nước Ca Tỳ La Vệ, muốn kiểm chứng lời của ông giáo sĩ này coi có đúng sự thật không, hay ông tưởng tượng ra để lừa người khờ khạo. Hơn nữa con của vua Tịnh Phạn là Thái tử Tất Đạt Đa có những thắc mắc mà không ai giải thích cho Thái tử thỏa mãn, nên Đức vua cho mời ông giáo sĩ Uất Đầu Lam Phất vào hoàng cung để Thái tử hỏi.

Nói về tài đức của đức vua Tịnh Phạn: Ngài là 1 vị vua có học vấn cao, có kiến thức hơn người, nên khi giáo sĩ Uất Đầu Lam Phất đến Hoàng cung Đức vua có nói rõ luật lệ và lễ nghi trong triều như sau:

-Trong Triều đình, luật có quy định rõ ràng như sau: Trong Hoàng cung, vua là bậc quân vương bất cứ ai đến Hoàng triều thì phải ra mắt và làm lễ trước quân vương.

-Còn trong hội đạo nào có trên 1000 người theo tu và học, thì người lãnh đạo đó được gọi là pháp vương.

Như vậy hôm nay pháp vương đến Hoàng cung thì pháp vương phải làm lễ ra mắt trẫm, trẫm cũng lưu ý pháp vương rằng:

Trước mặt 1 quân vương những câu hỏi nếu pháp vương biết được rõ ràng thì tâu là biết, còn không biết hoặc tưởng tượng ra tâu là biết, sau có trả lời không hoặc trả lời sai, thì bị phạm vào tội phạm thượng khi quân, vậy pháp vương có nghe rõ lời trẫm không?

Pháp vương Uất đầu Lam Phất Trả lời rằng:

-Tâu quốc vương thần đã nghe rõ.

Đức vua Tịnh Phạn nói:

-Nếu pháp vương nghe rõ, vậy pháp vương có đồng ý trả lời những câu hỏi mà Thái tử Tất Đạt Đa hỏi không?

Pháp vương Uất đầu Lam Phất trả lời:

-Tâu, thần chấp nhận trả lời những câu hỏi của thái tử Tất Đạt Đa.

Đức vua Tịnh Phạn nói:

-Vậy các khanh hãy mời pháp vương Uất đầu Lam Phất sang bên phòng nghi lễ để giáo sĩ hành lễ với trẫm, đúng theo luật của Triều đình.

Những vị có nhiệm vụ tổ chức buổi lễ, mời pháp vương Uất đầu Lam Phất sang phòng lễ để hành lễ với đức vua Tịnh Phạn theo đúng nghi lễ trong Triều đình.

Đức vua Tịnh Phạn thượng ngồi trên ghế rồng. Giáo sĩ Uất Đầu Lam Phất quỳ dưới hành lễ theo đúng nghi lễ quy định trong triều.

Khi hành lễ xong, giáo sĩ Uất Đầu Lam Phất được mời ra đại sảnh ngồi trên ghế cao, đức vua Tịnh Phạn thì ngồi kế bên.

Dãy bên phải, bên trái của đức vua và giáo sĩ là hàng quan văn, quan võ ngồi phía trước, phía sau là những vị nam, nữ trong Hoàng tộc ngồi.

Lễ nghi được sắp đặt xong, Thái tử Tất Đạt Đa được mời ra đại sảnh để hỏi.

Trước tiên Thái tử chào hỏi thăm sức khỏe vua cha, chào pháp vương Uất Đầu Lam Phất và các quan đại thần cũng như những người trong Hoàng tộc.

Thái tử nhìn lên pháp vương Uất Đầu Lam Phất hỏi:

-Thưa pháp vương giáo sĩ: theo luật Triều đình này những gì Ngài trình nói nơi đại sảnh hôm nay, có đức vua và nhiều vị quan trong triều chứng kiến, cũng như những vị cao niên trong Hoàng tộc. Những lời nói của Ngài phải chân thật rõ ràng, không được dối trá, hay tưởng tượng ra nói. Nếu pháp vương nhận trả lời những thắc mắc của tôi, thật sự ngài biết và trả lời được, thì hứa. Còn không trả lời được xin Ngài rút lui, tôi trình với phụ vương là Ngài đến chào đức vua và thăm triều đình thôi, bỏ qua những câu vấn đáp hôm nay.

Pháp vương Uất Đầu Lam Phất tự cho mình là người có đại danh, dưới trướng mình có mấy ngàn người đảnh lễ, chẳng nhẽ 1 Thái tử còn nhỏ tuổi, tối ngày chỉ ở trong Hoàng cung, chưa từng đi ra ngoài học hỏi, mà có những lời hỏi cao sâu ư, nên pháp vương Uất Đầu Lam Phất nói với Thái tử rằng:

-Thưa Thái tử tôi là 1 pháp vương tu hành đã chứng được thiền Phi Phi tưởng, có nghĩa là tôi thấy và biết được mấy chục cõi trời, chẳng nhẽ mấy câu hỏi của Thái tử tôi không trả lời được sao?

Thái tử Tất Đạt Đa nói với pháp vương Uất Đầu Lam Phất:

-Một Lần nữa tôi xin nhắc lại, nếu Ngài nhận trả lời câu hỏi của tôi, cũng có nghĩa, ngài chấp nhận lên cầu bước qua sông, khi qua sông rồi tức khắc ván cầu bị đứt ngay, có nghĩa luật hỏi đáp phải nằm trong khuôn phép của Triều đình mà tôi đã nói với Ngài.

Pháp vương Uất Đầu Lam Phất nghiêm chỉnh, khẳng định và chấp nhận những câu hỏi của Thái tử.

Thái tử bắt đầu hỏi:

-Xin hỏi Ngài trái đất này do đâu mà có?

-Do Thượng đế làm ra.

-Thượng đế có công bằng chăng?

-Rất công bằng.

-Vậy cái gì mang thân con người đi?

-Là Linh hồn.

Một loạt 3 câu đối đáp hết sức thú vị, với sự chứng kiến của đức vua và các vị quan trong triều, ai ai cũng khen cho là những câu đối đáp từ trước đến nay chưa nghe ai hỏi và đáp như vậy.

Thái tử Tất Đạt Đa nương theo 3 câu hỏi và đáp như trên, Thái tử liền nói 1 loạt như sau:

-Vậy ai sinh ra Thượng đế?

-Thượng đế lấy vật tư từ đâu để làm?

-Nếu nói Thượng đế công bằng, tại sao:

Trên thế giới này người thì quá giàu, người thì quá nghèo?

Người quá khôn, người quá dại?

-Nếu nói con người có linh hồn:

Linh có nghĩa khôn lanh sáng suốt.

Hồn có nghĩa là 1 thực thể tồn tại không bao giờ mất.

Nhưng tai sao con người:

+Mới sinh ra không biết gì?

+Kẻ thì khôn, người thì dại?

+người lanh kẻ đần?

+người đen kẻ trắng?

+vân vân và vân vân…

-Xin Ngài vì vua cha, vì tôi, vì tất cả những vị quan trong triều và những người có mặt tại đây, mỗi thứ xin ngài giải thích rành mạch thuận lý, ngài đừng tưởng tượng ra để nói, hay nói bừa mà phải mang trọng tội phạm thượng khi quân.

Vừa nghe 1 loạt những câu hỏi mà thái tử tất Đạt Đa, pháp vương Uất Đầu Lam Phất sắc mặt Ngài bỗng nhiên tái xanh và run sợ, không thể nào giải thích được thuận lý, nên Ngài đành cúi đầu lặng thinh không dám nhìn ai.

Vì sao vậy?

-Vì pháp vương Uất Đầu Lam Phất chỉ là 1 ông thầy dùng cái đầu hiểu biết phàm phu của mình suy nghĩ rồi tưởng tượng ra để nói cho những người ngu khờ nghe, chứ thực sự ông ta không tu chứng được cái gì cả.

Vì sao ông ta tưởng tượng ra được như vậy?

Vì ông ta thấy và biết những người xung quanh là những kẻ ngu khờ, nghe ông nói cái gì cũng tin, không dám đem cái đầu khôn ngoan ra xem xét coi đúng hay không. Vì chỗ chánh yếu này ông ta mới dám tuyên bố mạnh miệng như vậy.

Ông tưởng rằng, Thái tử Tất Đạt Đa cũng như bao nhiêu người khác, hơn nữa Thái tử còn nhỏ tuổi thì làm gì khám phá ra những lời lừa bịp của ông ta, nên ông ta tuyên bố quá mạnh như vậy.

Ông không ngờ rằng Thái tử Tất Đạt Đa là 1 con người có bộ óc siêu xuất, nên những lời bịa ra của ông bị Thái tử khám phá. Nếu ông giáo sĩ biết được sự khôn ngoan của Thái tử, thì ông đã không dám đến Hoàng cung để khoe danh.

Đức vua Tịnh Phạn thấy pháp vương ngồi im và run sợ, không trả lời được mấy câu hỏi của Thái tử nên đức vua nói:

– Trẫm đã nói trước với ông rồi, sau đó Thái tử cũng đã nói với ông lần thứ 2. Ông khẳng định là trả lời được, nay ông ngồi đây mà run sợ có ích gì, để không mất sĩ diện cho ông, Trẫm tha tội phạm thượng khi quân cho ông, nhưng ông phải tuân thủ điều kiện sau:

– Đạo nào cũng có mục đích riêng của đạo đó cả, như: Người muốn kiếp sau hưởng phước, thì kiếp này phải bố thí để tích phước về sau. Chứ trên đời này không có ông thầy hay bà Thánh nào ban phước cho mình cả.

Ông bịa ra những chuyện linh thiêng hay chứng được cái này cái kia làm gì?

Mục đích của ông là để lấy tiền của những người khờ dại, khi hết kiếp này ông phải đầu thai trả lại làm tôi tớ để trả nợ cho người ta.

Còn điều kiện, Trẫm tha tội phạm thượng khi quân của ông, ông phải thành thật ăn năn hối lỗi trước mọi người. Trẫm sẽ đề cử ông quan phụ trách văn hóa đứng ra chủ tọa buổi lễ này, ông phải đứng ra xin lỗi như sau:

-Kính thưa đại chúng, tôi là giáo sĩ Uất Đầu Lam Phất. Trước đây tôi bịa ra là tôi tu chứng được thiền Phi Phi Tưởng, mục đích là dụ những người nghe đâu tin đó đến nghe, để quý vị cúng tiền cho tôi xài mà không phải lao động mệt nhọc, cũng vì lời nói không thật của tôi, mà tôi lại đem nói với đức vua Tịnh Phạn và Thái tử Tất Đạt Đa, tôi đã bị Thái tử Tất Đạt Đa khám phá ra lời tuyên bố không thật của tôi, nên tôi bị phạm tội phạm thượng khi quân. Tội này là tôi bị tru di tam tộc, đức vua là 1 vị vua nhân từ, nên tha tội cho tôi. Hôm nay tại giảng đường này có sự chứng kiến của vị quan văn hóa Thiện Trường Khánh, tôi xin chân thành ăn năn và xin lỗi đại chúng, xin quý vị bỏ qua cho tôi.

Ông giáo sĩ Uất Đầu Lam Phất nghe đức vua Tịnh Phạn ra điều kiện như vậy để tha tội chết cho ông, ông sụp xuống lạy tạ đức vua và trình:

-Dạ thần vâng lời và lạy tạ đức vua.

Riêng về phần Thái Tử Tất Đạt Đa, đức vua biết không thể nào giữ Thái tử được, nên dẹp buồn rầu cho phép Thái tử xuất hoàng cung, để Thái tử thỏa lòng mong muốn đi tìm 4 điều thắc mắc của Thái tử.

2.XUẤT HOÀNG CUNG:

Do Thái tử được vua cha cho phép xuất hoàng cung, Thái tử cùng người hầu là Sa Nặc, cưỡi ngựa Kiền Chắc, vượt đường dài đến khu rừng bên dòng suối để tu hành.

3.TU KHỔ HẠNH:

Đầu tiên Thái tử ngồi thiền tu khổ hạnh, mỗi ngày chỉ ăn ít cơm và muối mè, Ngài ăn như vậy lâu ngày, nên thân Ngài chỉ còn ra bọc xương, da của Ngài đụng đến đâu trầy đến đó, còn lông tóc thì rờ đến đâu rụng đến đó, mà dụng công tu khổ hạnh như vậy mà không có kết quả gì, ý Ngài muốn ép cho thân mình khô kiệt để cho lòi tánh Phật chân thật của chính mình, từ tánh chân thật đó, để biết được 4 thắc mắc mà Ngài muốn biết.

Ngài dụng công tu khổ hạnh như vậy không đạt được ý Ngài mong muốn nên Ngài bỏ pháp môn tu này, và ngài dùng ít sữa của nàng Mục Nữ dâng cúng Ngài nghe người Ngài khỏe lại và chuyển sang pháp môn tu khác.

4.TU TRUNG ĐẠO:

Pháp môn tu dụng công khổ hạnh đã thất bại, nên Ngài có suy nghĩ phải đi tìm những ông giáo sĩ có danh tiếng, nói thật hay, để học hỏi những lời dạy của các vị này, mong muốn những lời hay ý đẹp này, có thể biết được 4 thắc mắc của Ngài, nhưng trong những lời hay ý đẹp này, cũng chỉ là những lời nói suông, chứ không biết được 4 phần mà Ngài thắc mắc.

5.TU ĐẠI THỪA:

Hai pháp môn tu trước đã thất bại, lần này Ngài ăn uống bình thường trở lại, thân được khỏe mạnh nên ngày nào cũng dụng công ngồi thiền:

-Tâm lúc nào cũng mong cầu, mong sao biết được những điều mà Ngài thắc mắc, nhưng mong cầu mãi mà Ngài cũng không biết được gì.

-Tâm lúc nào cũng tưởng tượng đủ thứ mà 4 thắc mắc của Ngài cũng không hiển lộ ra, mà nó hiển lộ ra những ảo giác không phải sự thật.

-Ép cho tâm Ngài không còn suy nghĩ 1 điều gì, khi Ngài ép cho tâm được thanh tịnh thì Ngài không còn biết gì, giống như ngủ quên vậy, nên Ngài sợ mà không dám dụng công tu thiền kiểu này nữa.

– Tìm xem những thắc mắc ấy như thế nào nhưng Ngài không biết được 4 thắc mắc của chính mình, mà Ngài lại biết được 2 phần căn bản như sau:

Biết được hữu dụng của vật chất từ nhỏ nhất đến lớn nhất,

Biết được cấu tạo vật chất, cực nhỏ hoặc thật lớn và công dụng của nó.

Nhưng những thắc của Ngài cũng chưa được rõ thông.

(Trích quyển “Đức Phật dạy tu thiền tông”- NXB Tôn Giáo Hà Nôi).

Tin Liên Quan