37 PHÁP QUÁN TRỢ ĐẠO LÀ QUÁN NHỮNG GÌ? Ý NGHĨA RA SAO?

Ông Tỳ kheo A Lạt Đề, từ chỗ ngồi dứng dậy, ra trước Đức Phật, trịch vai áo bên phải, quì gối, chắp tay bạch cùng Đức Phật rằng:
– Kính bạch Đức Thế Tôn: Những gì mà Đức Thế Tôn dạy huynh đệ chúng con, con đã hiểu, nhưng con còn có một thắc mắc như sau, kính xin Đức Thế Tôn dạy chúng con:
– 37 pháp quán trợ đạo là quán những gì, ý nghĩa ra sao, kính xin Đức Thế Tôn dạy chúng con?
Đức phật dạy:
– Này Tỳ kheo A Lạt Đề, sau đây là 37 pháp Quán trợ đạo, tức trợ giúp các người tu hành biết đầu đường để trở về Phật giới, gồm:
Quán để tiêu diệt 16 thứ của tánh người:
1/- Quán diệt Thọ: Người tu hành dụng công Quán để diệt cái Thọ nhận. Không cho nó Thọ nhận bất cứ thứ gì, dù phải hay trái, để trong tánh người được trống rỗng. Nhờ vậy, mà trong vỏ bọc tánh người của họ được thanh tịnh, tức được “Định”.
2/- Quán diệt Tưởng: Người tu hành dụng công Quán để diệt cái Tưởng tượng. Không cho nó Tưởng tượng ra một điều gì, dù đúng hay sai, để người tu được “Định”.
3/- Quán diệt Hành: Người tu hành dụng công Quán để diệt cái Hành động của mình. Không cho Hành động một điều gì, dù phải hay không phải, để người tu được “Định”.
4/- Quán diệt Thức: Người tu hành dụng công Quán để diệt cái Thức của mình. Không cho nó biết những chuyện bâng quơ, để người tu được “Định”.
5/- Quán diệt Tài: Người tu hành dụng công Quán để diệt cái ham Tài của mình. Không cho nó ham Tài, để người tu được “Định”.
6/- Quán diệt Sắc: Người tu hành dụng công Quán để diệt cái ham Sắc đẹp người và vật chất, để người tu được “Định”.
7/- Quán diệt Danh: Người tu hành dụng công Quán để diệt cái ham Danh của mình, dù Danh nhỏ hay Danh lớn gì cũng không cho dính vào mình, để mình được “Định”.
8/- Quán diệt Thực: Người tu hành dụng công Quán để diệt cái ham Thực ngon của mình, có gì ăn nấy không đòi hỏi, để người tu được “Định”.
9/- Quán diệt Thùy: Người tu hành dụng công Quán để diệt cái ham Thùy chỗ cao sang, có chỗ ngủ là được, để mình được “Định”.
10/- Quán diệt Tham: Người tu hành dụng công Quán để diệt cái Tham của mình. Không cho mình Tham những thứ phi nghĩa, để mình được “Định”.
11/- Quán diệt Sân: Người tu hành dụng công Quán để diệt cái Sân của mình. Không cho tánh mình nổi Sân, bất cứ ở hoàn cảnh nào, để tánh mình được “Định”.
12/- Quán diệt Si: Người tu hành dụng công Quán để diệt cái Si của mình. Không cho nó Si mê bất cứ thứ gì, để mình được “Định”.
13/- Quán diệt Mạn: Người tu hành dụng công Quán để diệt cái ngạo Mạn của mình. Không cho nó bộc lộ cái ngã Mạn ra, để mình được “Định”.
14/- Quán diệt Nghi: Người tu hành dụng công Quán để diệt cái Nghi đối với người khác, để mình được “Định”.
15/- Quán diệt Ác: Người tu hành dụng công Quán để diệt tâm Ác, để mình được “Định”.
16/- Quán diệt Kiến: Người tu hành dụng công Quán để diệt cái Kiến chấp, để mình được “Định”.
Người tu hành dụng công Quán để diệt 16 thứ nói trên của tánh người, để người tu được định; nhờ được định nên mới biết đầu đường về Phật giới.
Để diệt 16 thứ nói trên, Như Lai dạy gọn một pháp Quán như dưới đây, không cần dụng công tu hành chi cho cực nhọc, các ông chỉ cần: “Không cho vọng tưởng khởi lên là các ông đã định rồi”, gọi gọn là “Diệt tận định”.
Để cho đầy đủ 37 pháp Quán trợ đạo, tức trợ giúp thấy đầu đường về Phật giới, Như Lai dạy thêm 21 pháp Quán nữa như dưới đây:
17/- Quán Nhĩ căn viên thông:
– Cái hằng Nghe, cứ hằng nghe là phải, tập được như vậy, khi thuần thục, tánh Nghe được viên thông.
18/- Quán Nhãn căn viên thông:
– Cái hằng Thấy, cứ hằng thấy là phải, tập được như vậy, khi thuần thục, tánh Thấy được viên thông.
19/- Quán tánh Biết viên thông:
– Cái hằng Biết, nó là tự nhiên biết, đừng chồng thêm cái biết nữa, tập được như vậy, khi thuần thục, tánh Biết được viên thông.
20/- Quán Vô thường:
– Vô thường là sinh diệt nơi trái đất này, biết được như vậy là biết Vô thường.
21/- Quán Vô Ngã:
– Nơi trái đất này, không có cái gì là Ngã chân thật cả. Biết được như vậy, thì mới dẹp cái Ngã chấp của mình.
22/- Quán Bất tịnh:
– Thân con người là không thanh tịnh. Biết được như vậy, nên không chấp Ta.
23/- Quán Một ra Vô lượng:
– Trong tánh của con người có cái Tưởng rất mạnh. Sức mạnh này do đâu mà có? Là do thần lực của một vị Thần ngự trị nơi trái đất này trợ giúp. Thần trợ giúp cái Tưởng của con người để làm gì? Là để chịu theo sự sai khiến của loài Thần làm 2 việc như sau:
*Một là, người này tự cho mình là có thần thông để dụ nhiều người đến cúng tiền và thực phẩm. Người thì lấy tiền. Thực phẩm thì Thần ăn trước, người ăn sau. Vì vậy, Quán Một ra Vô lượng được thành công là có nguyên nhân như vậy.
24/- Quán Từ bi:
– Người dụng công bủa lòng Từ Bi có thành tựu là có nguyên do như sau:
Một: Khi khởi Quán bủa lòng Từ bi, xung quanh là có vô số loài Thần đứng kế bên, nên khi người vừa Quán, tức khắc có một vị Thần bủa ánh sánh điện từ Âm vào thân người mình liền. Điện từ Âm là điện từ mát lạnh, làm cho thân người đó có cảm giác mát, cho là mầu nhiệm do bủa lòng từ mà có.
Vị Thần giúp phần này để làm gì?
– Cũng vì thức ăn thôi.
25/- Quán Hỷ:
– Người dụng công Quán Hỷ, nghe lòng mình Hỷ lạc vô cùng. Đây cũng là do vị Thần trợ giúp, để loài người cúng cho Thần ăn.
26/- Quán Tứ niệm xứ:
– Quán Tứ niệm xứ là để biết thân mình là do tứ đại duyên hợp mà thành. Biết được như vậy, mới tìm đường thoát ra.
27/- Quán Minh sát Tuệ:
– Đây là pháp Quán của người Ngốc! Vì sao Như Lai nói vậy? Vì người này đem ánh sáng điện từ Quang, để sát cái hiểu biết của tánh người. Người này quá ngốc nên mới làm như vậy.
Con người sống trong thế giới nhân quả luân hồi, thì phải sử dụng cái hiểu biết của con người. Người này, lại đem tánh Phật ra giết tánh người, người này không ngốc là gì.
Vì vậy Như Lai có dạy:
– Loài người ai sợ nhân quả luân hồi thì hãy tìm công thức thoát ra, chớ ở trong thế giới này, sử dụng cái này sát cái kìa, các ông làm những chuyện phí công vô ích. Nên Như Lai có dạy:
– Chỉ cần bỏ chuyện thế gian.
– Thế gian “Buông” bỏ, Niết bàn hiện ra.
28/- Quán Minh sát Âm:
– Đây là “anh ngốc” thứ hai. Hãy nghe câu kệ này sẽ biết:
Điện Quang chiếu ở thế gian

Mất đi Âm lực, thế gian u buồn.

Nhìn vào thế giới u buồn

Kéo người sanh tử, luôn luôn luân hồi.

Thế gian tranh mãi không thôi

Sát nhau đến chết, chết rồi chưa yên

Tái sanh chém giết triền miên

Mất hết sự sống, chưa yên bao giờ.

Tánh người là thứ nhện tơ

Rối cuồng không biết bến bờ thoát ra.

Ta là Đức Phật Thích Ca

Dạy cho nhân loại thoát ra tranh giành

Tranh giành mang đến tử sanh

Nhưng không tìm hiểu, tử sanh ngàn đời.
29/- Quán Tứ diệu đế:
– Đã mang thân tứ đại sống đâu cũng khổ. Vì vậy, Như Lai dạy 4 căn bản:
1/- Thân người sống đâu cũng khổ, gọi là “Khổ đế”.
2/- Muốn thoát ra “Bể khổ”, duy nhất con người phải tu tập thì mới thoát “Khổ” được, chớ tu hành không khi nào thoát Khổ được, gọi là “Tập đế”.
3/- Khi tu tập được thành công, thì mới không còn Khổ nữa, gọi là “Diệt đế”.
4/- Khi nhận được pháp môn Thanh tịnh thiền, hiểu được công thức giải thoát, gọi là “Đạo đế”
30/- Quán Lục diệu hơi thở:
– Đây là 6 cách sử dụng hơi thở để trị bệnh rất hay, gọi là lục diệu.
Sử dụng hơi thở như sau:
* Hít hơi thở thật sâu, cho căng 2 lá phổi, các lỗ chân lông nghe được thông.
* Thở cho 2 lá phổi xẹp, nghe lỗ chân lông không khí được ra vào.
* Phương pháp này, người tập Khí công và Yoga áp dụng chánh, còn căng xương khớp chỉ là phần phụ.
* Như Lai, hằng ngày ngồi thiền sử dụng phương pháp này, nên:
– Ít bệnh.
– Ăn mỗi ngày 1 bữa cơm.
Vì quá kỳ diệu, nên Như Lai gọi là “Lục diệu cách thở” như sau:
Một: Đếm hơi thở, gọi là “Sổ tức”. Khi thuần thục chuyển qua:
Hai: Theo hơi thở, gọi là “Tùy tức”. Khi thuần thục chuyển qua:
Ba: Dừng hơi thở, gọi là “Chỉ tức”. Khi thuần thục chuyển qua:
Bốn: Xem hơi thở, gọi là “Quán tức”. Khi thuần thục chuyển qua:
Năm: Cho hơi thở trở lại bình thường, gọi là “Hoàn tức”.
Năm cách thở này để cho cơ thể được khỏe mạnh, để tu tập Giải thoát.
Sáu: Nơi phần sáu này có 2 đường đi rõ ràng. Vậy các ông hãy nghe cho thật rõ 12 câu kệ sau đây:
Nơi đây ngã rẽ hai đường

Kẻ theo lục đạo người về vô sanh

Tu thiền phải hiểu cho rành

Không dính không mắc tử sanh luân hồi.

Thiền Quán thiền Tưởng nên thôi

Sống với Phật tánh luân hồi màng chi

Thiền Thanh phải hiểu đường đi

Đi vào Phật giới hết thì chuyển luân.

Thiền Thanh chỉ tu chữ “Dừng”
Dừng được tất cả luân hồi bỏ ta

Ta là Thái tử Đạt Đa

Dạy cho nhân loại vượt qua Hải Triều.
31/- Quán Bát chánh đạo:
Quán Bát chánh đạo: Để biết 8 đường chánh dẫn đến giải thoát.
Pháp môn Bát chánh đạo này, là pháp môn dẫn con người tu tập vào 1 trong 8 con đường đi vào Phật giới, thường thường người vào Phật giới dễ nhất là con đường “Nhãn căn”.
Xin lưu ý về pháp môn Bát chánh đạo này:
– Pháp môn này chỉ dẫn người tu đến được đầu đường giải thoát thôi, còn muốn giải thoát thì phải tu thêm “Diệu giác” nữa thì mới vượt qua cửa “Hải Triều Dương” để vào Phật giới.
32/- Quán Sáng:
– Dụng công tu Quán lục căn cho sáng. Người dụng công tu theo pháp môn này, tâm duyên hợp vật lý rất là minh mẫn, làm việc gì cũng nhanh nhẹn.
Pháp môn Quán Sáng này, rất thích hợp cho người kinh doanh lớn hoặc đang làm chức vụ to.
33/- Quán Lục căn:
– Dụng công Quán Lục căn, không cho Lục căn dính với Lục trần. Người nào tu theo pháp môn này mà thành công, thì người này đã biết được cửa thứ Nhất vào Phật giới.
34/- Quán Nhân quả:
– Những người tu hành theo pháp Quán Nhân quả. Khi thành công, họ biết được Nhân quả nhiều đời của mình, nhờ vậy mà hoàn cảnh nào đến với họ, họ cũng không oán hận hay vui, tức họ bình thường. Phần Quán này, Như Lai dạy trong kinh Thủ Lăng Nghiêm; “Tâm Bình là Đạo”.
35/- Quán biết vọng:
– Khi dụng công Quán biết vọng không theo; người tu hành này, không theo Vọng tưởng của mình. Xếp theo Bát Chánh Đạo, người này đạt được “Sơ địa Bồ Tát”.
Người này muốn trở về Phật giới, thì phải không theo tất cả các vọng của mình nổi lên. Nếu thực hiện được hoàn toàn thì người này đạt được “Đẳng giác”, tức giác cao nhất. Sau cùng, người này phải học thêm công thức Giải thoát. Khi đã biết công thức rồi mà thực hành đúng nữa, thì được vào quả “Diệu giác”, thì về Phật giới rất dễ dàng.
36/- Quán Hoa báo:
– Pháp Quán Hoa báo này, chỉ dành riêng cho 5 dạng người tu hành dưới đây:
Một: Không biết giác ngộ là gì. Đứng ra dạy, dụ nhiều người đến nghe, để họ cúng tiền.
Hai: Không biết công thức giải thoát ra sao. Đứng ra dạy, dụ nhiều người đến nghe, để họ cúng tiền.
Ba: Không phải Thiền sư. Tự xưng mình là Thiền sư để được 2 thứ:
1/- Có Danh tiếng lớn.
2/- Được nhiều người đem Lợi đến cho mình.
Bốn: Không phải Tổ sư thiền. Vì nghe danh Tổ sư thiền oai quá, tự xưng mình là “Tổ sư thiền”, để thiên hạ quì mọp lạy mình mà dâng tiền.
Năm: Một Giảng sư phải uyên thâm Phật học thì mới đúng danh là một Giảng sư. Mình chỉ biết có vài quyển kinh phổ thông. Nhưng vì Danh và Lợi, mà tự xưng mình là Giảng sư. Đây, tự mình bước sâu vào đường “Hoa báo” vậy.
Như Lai dạy rõ:
– “Hoa báo” gọi là “đường số 7”, chỉ kéo 5 dạng người nói trên vào để “an vui” trong đó vài chục tỷ năm thôi.
37/- Quán Chân Như:
– Đây là pháp Quán xem cái Chân Như của chính mình là gì. Nếu rõ biết, đó chính là Phật tánh của mình, thì người này duy nhất chỉ làm có 2 việc:
Một: Phải tu tập lần lần để nhận ra Phật tánh của chính mình và hằng sống với Phật tánh ấy.
Hai: Bằng phương tiện gì đó tạo ra công đức, để khi hết duyên sống nơi thế giới này, mới trở về Phật giới được.
Đức Phật dạy 37 pháp Quán trợ đạo này, là để giúp cho những ai tu theo đạo của Ngài, mà thích dụng công Quán tưởng.
Trong bài kệ ngộ Thiền của Như Lai, khi Như Lai ngộ Thiền nơi cõi trời Đâu Suất có trình với Phật Nhiên Đăng về tánh của con người như sau:

Loài người không chịu ở yên

Dụng công cho mệt mới yên trong lòng

Dụng công để được thần thông

Đi khoe thiên hạ để mong kiếm tiền.

Tánh người rất thích linh thiêng

Cầu xin lạy lục, linh thiêng đổ vào

Qui luật vật lý chảy vào

Làm thân vui sướng, tâm trào an vui.

Loài người vì bởi cái Tôi

Cái Tôi là Ngã, luân hồi mãi đi

Thiền Thanh chỉ cần “Dứt” đi

Nếu ai “Dứt” được, hết thì trầm luân.
Ông Tỳ Kheo A Lạt Đề nghe Đức Phật trả lời câu hỏi của mình, ông hết sức vui mừng và cám ơn.
TRÍCH QUYỂN “HUYỀN KÝ CỦA ĐỨC PHẬT TRUYỀN THEO DÒNG THIỀN TÔNG”.
NXB. TÔN GIÁO HÀ NỘI.

Tin Liên Quan